Bài 4: Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc chính sách dân tộc của Việt Nam

Mặc dù các quyền con người là tự nhiên, vốn có nhưng về đối nội, để các quyền đó được hiện thực hoá thì cần có vai trò của Nhà nước. Về đối ngoại, Việt Nam nhận thức rõ việc đảm bảo các quyền cho người dân tộc thiểu số (DTTS) chính là biểu hiện cao nhất của việc thực thi Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD) mà Việt Nam đã tham gia từ năm 1982.

Tổng Bí thư - Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng gặp mặt các già làng, trưởng bản, người có uy tín tiêu biểu toàn quốc (ngày 21/12/2018) - ảnh: TTXVN

Tích cực thể chế hệ thống chính sách pháp luật liên quan đến dân tộc

Thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã tích cực nội luật hoá các quy định, nguyên tắc về quyền con người trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc. Một trong những mục tiêu của nội luật hoá là đảm bảo sự tiến bộ thực sự về nhân quyền cho người DTTS.

Từ 30 văn bản thể hiện chủ trương, đường lối của Đảng, đã được Nhà nước thể chế thành hệ thống chính sách dân tộc bao phủ hầu hết các lĩnh vực đời sống của đồng bào DTTS. Trong 10 năm qua, Quốc hội Việt Nam đã ban hành 125 luật, trong đó có 352 điều khoản trực tiếp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của các DTTS.

Hiến pháp 2013 khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển”. Nguyên tắc không phân biệt đối xử và bình đẳng giữa tất cả các thành viên trong cộng đồng là cốt lõi của Hiến pháp và cũng được thực hiện thông qua các cải cách lập pháp có liên quan. Nguyên tắc trên được quán triệt trong toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam, là nguyên tắc cơ bản của chính sách đảm bảo quyền cho các DTTS. Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật.

Ông Y Thông - Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc nêu rõ, do phần lớn các DTTS Việt Nam cư trú ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, gặp khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội nên đồng thời với việc xác định quyền bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước Việt Nam còn khẳng định ưu tiên hỗ trợ và tăng cường đoàn kết giúp đỡ, tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực vươn lên hội nhập với sự phát triển chung được thể hiện tại Điều 5 Khoản 4 của Hiến pháp: “Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các DTTS phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước”. Đây là nguyên tắc, là biểu hiện đặc trưng cơ bản trong chính sách dân tộc của Việt Nam và phù hợp với Khoản 4 Điều 1 Công ước CERD.

Pháp luật Việt Nam còn có những quy định cụ thể về cấm phân biệt đối xử, được thể hiện tại Hiến pháp năm 2013 (Điều 16, 26, 35) và nhiều văn bản pháp luật. Việt Nam cũng khẳng định lập trường kiên quyết phản đối và chống chia rẽ, kích động hận thù giữa các dân tộc, chủng tộc. Những hành vi phân biệt chủng tộc hoặc hỗ trợ các hoạt động gây chia rẽ, kỳ thị và phân biệt chủng tộc đều bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm, trừng trị nghiêm khắc.

Thành tựu phát triển không thể phủ nhận

Theo Thiếu tướng Nguyễn Văn Kỷ - Phó Cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Công an, trong các giai đoạn lịch sử của cách mạng, Đảng, Nhà nước ta luôn ưu tiên hỗ trợ các DTTS phát triển về mọi mặt. Từ khi gia nhập Công ước CERD, Việt Nam tiếp tục huy động nguồn lực nhằm tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS; xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Nhờ những chủ trương, chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng, Nhà nước, lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội ở vùng đồng bào DTTS đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận, được thể hiện trên những khía cạnh như sau:

Thứ nhất, bình đẳng về chính trị của các DTTS được thực hiện ngày càng hiệu quả

Từ năm 1946 đến nay, kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội nào cũng có đại diện của 28 - 32 dân tộc. Khóa I (1946), chỉ có 34 đại biểu người DTTS, tỷ lệ 10,2% thì Quốc hội Khóa XV nhiệm kỳ 2021 - 2026, đã có 89/499 đại biểu là người DTTS, tỷ lệ 17,84%, cao nhất trong các khóa Quốc hội và tiệm cận rất sát tới mục tiêu đảm bảo ít nhất 18% đại biểu Quốc hội là người DTTS.

Một số DTTS có số dân đông như Tày, Thái, Mường, Khmer, Mông, Nùng… đều có đại diện qua các khóa Quốc hội với số lượng đáng kể. Một số dân tộc có dân số dưới 10.000 người sinh sống ở các vùng núi cao, hẻo lánh cũng có đại diện tham gia Quốc hội. Khóa XIV, lần đầu tiên có đại diện dân tộc Mảng (dân số dưới 5.000 người) và khóa XV, lần đầu tiên có đại diện dân tộc Brâu (dân số dưới 1.000 người) và dân tộc Lự (dân số 6.000 người) tham gia Quốc hội. Đến nay, 51/53 DTTS đã có đại diện tham gia Quốc hội các khóa, chỉ còn 2 dân tộc: Ơ đu (số dân dưới 1.000 người) và Ngái (số dân dưới 2.000 người) chưa có đại diện tham gia Quốc hội. Mục tiêu của Việt Nam là phấn đấu để các dân tộc đều có đại biểu Quốc hội.

Cô giáo Nàng Xô Vi (dân tộc Brâu) Đại biểu Quốc hội phát biểu thảo luận tại Kỳ họp lần thứ 2 Quốc hội khoá VX (tháng 12/2021) - ảnh: quochoi.vn 

Về tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) là người DTTS ở cấp xã, cơ bản, các địa phương đã đạt được mục tiêu theo Quyết định số 402/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đến tháng 5/2023, tỷ lệ CBCCVC người DTTS chiếm 11,5% tổng số CBCCVC. Nhiều địa phương có tỷ lệ CBCCVC người DTTS cao như: Cao Bằng 87,9%, Bắc Kạn 77,8%, Lạng Sơn 75,2%, Hà Giang 56%, Sơn La 53%, Hòa Bình 50,3%, Điện Biên 46,4%, Tuyên Quang 38%, Lào Cai 37,5%.

Thứ hai, kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS phát triển vượt bậc

Những năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng Việt Nam đã ưu tiên bố trí ngân sách để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi. Giai đoạn 2003 - 2008, khoảng 250.000 tỷ đồng, giai đoạn 2011 - 2015 là 690.000 tỷ đồng, giai đoạn 2016 - 2020 là 998.000 tỷ đồng. Giai đoạn 2021 - 2025, lần đầu tiên, Việt Nam có Chương trình mục tiêu quốc gia dành riêng cho vùng đồng bào vùng DTTS và miền núi, thể hiện sự quan tâm đặc biệt, là quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao vị thế và đảm bảo quyền phát triển cho đồng bào DTTS. Giai đoạn này, Quốc hội phê duyệt chủ trương bố trí trên 137 nghìn tỷ đồng để thực hiện Chương trình.

Theo báo cáo số 732/BC-UBDT ngày 10/6/2021 của Ủy ban Dân tộc tổng kết 8 năm thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2013 - 2020, nhờ các chính sách dân tộc, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hàng năm. Bình quân toàn vùng DTTS và miền núi giảm 4%/năm; các xã đặc biệt khó khăn giảm trên 4%/năm trở lên; các huyện nghèo giảm 5 - 6%/năm trở lên, trong khi cả nước tốc độ giảm chỉ là 2%/năm.

Năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo DTTS còn khoảng 33% (giảm 5,62%) so với chỉ tiêu Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ giao. Một số tỉnh ước tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh: An Giang giảm 11,3%, Quảng Nam giảm 10,4%, Quảng Trị giảm 6,73%... Các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Cần Thơ, Đồng Nai, Long An, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 1%; tỉnh Quảng Ninh không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo của Trung ương. Kết quả giảm nghèo đa chiều đã làm thay đổi căn bản đời sống của đồng bào.

Toàn quốc có 7,9 triệu lao động DTTS có việc làm, chiếm 82,1% tổng số người DTTS từ 15 tuổi trở lên. Tỷ lệ thất nghiệp của người DTTS chỉ là 1,4%, thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn quốc[1].

Hơn 1,4 triệu hộ DTTS đang được thụ hưởng hầu hết các chương trình tín dụng ưu đãi. Theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội[2]: dư nợ đối với khách hàng là đồng bào DTTS trên 75 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,7%/tổng dư nợ[3]; bình quân 01 hộ DTTS dư nợ đạt trên 50 triệu đồng (bình quân chung toàn quốc là 45 triệu đồng). Thông qua vốn tín dụng chính sách, đồng bào DTTS đã có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm bệnh tật, giảm thất học và tệ nạn xã hội, thêm tự tin, tăng dần vị thế trong xã hội.

Nhà nước còn hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho đồng bào DTTS ở vùng khó khăn. Hiện nay, 96,12% người DTTS sử dụng thẻ bảo hiểm y tế. Số người nghèo, người DTTS tham gia thực hiện khám chữa bệnh bảo hiểm y tế đạt gần 43 triệu lượt người, chiếm 24% số người tham gia bảo hiểm y tế toàn quốc.

Hiện nay, 96,12% người DTTS sử dụng thẻ bảo hiểm y tế và thường xuyên được sử dụng các dịch vụ khám chưa bệnh ở tất cả các tuyến từ Trung ương tới cơ sở (ảnh: Phương Liên)

Khi gặp rủi ro bất khả kháng như thiên tai, dịch bệnh… đồng bào DTTS được Nhà nước hỗ trợ kịp thời. Điển hình lúc dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, Ủy ban Dân tộc đã kịp thời hỗ trợ bệnh nhân F­0 và F1 người DTTS tại tỉnh Điện Biên và Bắc Giang tổng số tiền 837,5 triệu đồng[4], hỗ trợ ổn định đời sống đối với học sinh DTTS một số trường dự bị đại học…

Đồng bào DTTS, phụ nữ, trẻ em dưới 6 tuổi, người dân vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo ngày càng có nhiều cơ hội được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Bệnh sốt rét, bướu cổ cơ bản được khống chế; tuổi thọ trung bình của 53 DTTS đạt 70,7 tuổi, tăng 0,8 năm so với năm 2015, tiến khá gần tới mức chung của cả nước (73,6 tuổi). Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt trên 90%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm mạnh qua từng năm. Thành tựu về giảm suy dinh dưỡng trẻ em và giảm tử vong mẹ, tử vong trẻ em của Việt Nam đã đảm bảo tiến độ thực hiện Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ[5].

Quy mô, mạng lưới trường, lớp vùng DTTS và miền núi được củng cố, phát triển từ mầm non, phổ thông đến cao đẳng, đại học. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở là thành tựu nổi bật của Việt Nam được ghi nhận tại nhiều diễn đàn quốc tế.

Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các DTTS được thực hiện hiệu quả. Nhiều lễ hội truyền thống lành mạnh được phục hồi, phát triển và hình thành mới, góp phần giữ gìn, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.

Về nhà ở, 95% hộ DTTS đang sống trong những ngôi nhà thuộc quyền sở hữu riêng; 96,7% hộ được sử dụng điện lưới quốc gia; 88,6% hộ được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh; 59,6% hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh, vượt mục tiêu đề ra đến năm 2020 gần 20%.

Tivi đã trở thành thiết bị sinh hoạt phổ biến của hộ DTTS với 81,5% số hộ sử dụng. Cơ hội tiếp cận thông tin của người DTTS ngày càng được mở rộng với tỷ lệ hộ sử dụng Internet đạt 61,3%, tăng hơn 9 lần so với năm 2015[6].

Hệ thống các chính sách dân tộc hiện nay được đánh giá là cơ bản đã bao phủ toàn diện các lĩnh vực đời sống, kinh tế, giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và quốc phòng, an ninh tại vùng DTTS và miền núi. Những thành tựu trong nội luật hoá và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta là minh chứng thuyết phục phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc về cái gọi là “Đảng, Nhà nước Việt Nam “phân biệt đối xử” với các DTTS” hoặc “chính sách ngược đãi các DTTS đang diễn ra ở Việt Nam”…


[1] Ủy ban Dân tộc: Kết quả Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2019

[2] Báo cáo kèm theo văn bản số 5565 /NHCS-TDNN ngày 11/7/2023 của Ngân hàng Chính sách - xã hội

[3] Cho vay thực hiện các chương trình, chính sách theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ: 32/2007/QĐ-TTg; 74/2008/QĐ-TTg; 54/2012/QĐ-TTg; 29/2013/QĐ-TTg; 755/2013/QĐ-TTg; 2085/2016/QĐ-TTg và Nghị định số 28/2022/NĐ-CP của Chính phủ

[4] Ủy ban Dân tộc: Báo cáo sơ kết công tác dân tộc 6 tháng đầu năm 2021

[5] Ủy ban Dân tộc: Kết quả Điều tra, thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2019

[6] Ủy ban Dân tộc: Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2019

Phương Liên - Phạm Kiên

Nguồn: dancongsan.vn

 


Tin tức liên quan

Những tờ báo đặc biệt trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam
Những tờ báo đặc biệt trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam

29 Lượt xem

Từ tờ báo “Thanh Niên” do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh sáng lập đến hệ sinh thái báo chí số ngày nay, báo chí cách mạng Việt Nam đã trải qua 101 năm hình thành và phát triển.

Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số
Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số

25 Lượt xem

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ".

Phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới
Phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới

22 Lượt xem

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước đặt ra những đòi hỏi mới đối với công tác đối ngoại.

Làm rõ tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Làm rõ tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

25 Lượt xem

Sáng 10/6, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia nhằm làm rõ tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Phát huy truyền thống thi đua yêu nước trong kỷ nguyên phát triển mới
Phát huy truyền thống thi đua yêu nước trong kỷ nguyên phát triển mới

20 Lượt xem

78 năm sau Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua yêu nước tiếp tục lan tỏa sâu rộng, khơi dậy khát vọng cống hiến và tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Xã, phường xã hội chủ nghĩa: Dân chủ và hạnh phúc - giá trị cốt lõi xây dựng niềm tin
Xã, phường xã hội chủ nghĩa: Dân chủ và hạnh phúc - giá trị cốt lõi xây dựng niềm tin

21 Lượt xem

Trong kỷ nguyên phát triển mới, xã, phường xã hội chủ nghĩa không chỉ được đánh giá qua hệ thống hạ tầng hiện đại, hay những con số tăng trưởng về kinh tế, mà còn thể hiện trong niềm tin, sự hài lòng và chất lượng cuộc sống của người dân.

Núp bóng công nghệ để mưu đồ chống phá (Tiếp theo và hết) Bài 2: Xây dựng không gian mạng lành mạnh, minh bạch và có sức đề kháng
Núp bóng công nghệ để mưu đồ chống phá (Tiếp theo và hết) Bài 2: Xây dựng không gian mạng lành mạnh, minh bạch và có sức đề kháng

21 Lượt xem

Từ dịch vụ “Hỗ trợ xử lý sự cố mạng” (Helpdesk) do Rise quảng bá thời gian gần đây, có thể thấy một sự chuyển hướng cần quan tâm: Hoạt động chống phá trên không gian mạng đang thay đổi rất nhanh về phương thức, cách tiếp cận và mức độ tinh vi.

Lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá đất nước
Lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá đất nước

18 Lượt xem

Tự do, dân chủ luôn là giá trị cốt lõi, là lý tưởng mà nhân loại tiến bộ hướng tới trong tiến trình phát triển. Ở Việt Nam, các quyền này không chỉ là sự khẳng định về mặt chính trị mà còn được thể chế hóa cụ thể, đầy đủ bằng hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. 

Khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

14 Lượt xem

Sáng 5/6, Bộ Quốc phòng phối hợp Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến-Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước-Ý chí bảo vệ độc lập, tự do với tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.

Tấm gương không ngừng sáng tạo và khơi nguồn sáng tạo
Tấm gương không ngừng sáng tạo và khơi nguồn sáng tạo

12 Lượt xem

Tròn 115 năm trước, quyết định đi tìm đường cứu nước thể hiện rõ tư duy độc lập, sáng tạo của Nguyễn Tất Thành. Đây cũng là quyết định khởi nguồn cho thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là nguồn cảm hứng cổ vũ cho độc lập, tự do của các dân tộc. Cuộc đời của Người là hành trình không mệt mỏi sáng tạo không ngừng.

115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Một địa danh, hai cột mốc
115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Một địa danh, hai cột mốc

19 Lượt xem

Trong suốt hành trình ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành - sau này là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, chặng dừng chân tại Hong Kong (Trung Quốc) tuy không dài nhưng lại mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Bài học về tầm nhìn, nhận thức và hành động
Bài học về tầm nhìn, nhận thức và hành động

13 Lượt xem

Cách đây 115 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời đất nước ra đi tìm đường cứu nước. Mục đích là để xem các nước người ta làm thế nào để trở về giúp đồng bào mình đấu tranh thoát khỏi đọa đày, đau khổ.


Bình luận
Đã thêm vào giỏ hàng