Gắn kết chặt chẽ và xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là di sản tư tưởng quý báu, luôn được Đảng ta thấm nhuần, vận dụng sáng tạo trong các thời kỳ cách mạng.
Đặc biệt, tư tưởng của Người về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội là nội dung vừa thể hiện rõ bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vừa là những nguyên tắc mang tính định hướng, “kim chỉ nam” để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, góp phần phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thực hành dân chủ trong Đảng
Thực hành dân chủ trong Đảng là tiến trình thực hiện những quy định, nguyên tắc… của Đảng nhằm bảo đảm quyền của đảng viên một cách thường xuyên, liên tục; trở thành chế độ, nền nếp trong mọi sinh hoạt và hoạt động của Đảng, hướng đến và bảo đảm sự tập trung, thống nhất, tạo sự đoàn kết, nhất trí, tăng cường năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng.
Vì quan niệm dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ, cho nên dân chủ trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất cũng là quyền làm chủ của mỗi đảng viên trong mọi hoạt động của Đảng, là sự bình đẳng của tất cả đảng viên trước Điều lệ, các nghị quyết và các quy định của Đảng. Nếu dân chủ là “của quý báu nhất của nhân dân” thì dân chủ trong Đảng cũng là “của quý báu nhất” của Đảng; thực hành dân chủ trong Đảng cũng là “cái chìa khóa vạn năng” giúp Đảng vượt qua mọi khó khăn, thách thức để hoàn thành sứ mệnh, nhiệm vụ chính trị vẻ vang.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhân dân xã Phong Phú, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình (Ảnh: TTXVN)
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở rộng thực hành dân chủ trong Đảng là điều cần thiết, bởi lẽ đảng viên của Đảng phải làm việc, lãnh đạo theo phong cách dân chủ, tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ thì mới xây dựng được nước ta là nước dân chủ, chế độ dân chủ, Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Theo đó, Đảng “phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom góp ý kiến của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt” (1). Ngược lại, sự mất dân chủ trong Đảng sẽ dẫn đến tình trạng mất đoàn kết và làm nảy sinh các thói xấu, rất nguy hại như “không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng”, “trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm”, “thậm thà thậm thụt”(2).
Người nhấn mạnh, Đảng ta phải được tổ chức một cách dân chủ. Điều đó có nghĩa là, tất cả mọi công việc của Đảng đều được toàn thể các đảng viên tham gia, hoàn toàn bình quyền và không có ngoại lệ nào, tiến hành trực tiếp hoặc thông qua các đại biểu; đồng thời, tất cả những người có trách nhiệm trong Đảng, tất cả các ban lãnh đạo và các cơ quan của Đảng đều được bầu ra, đều có trách nhiệm phải báo cáo và có thể bị bãi miễn nếu không hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, vấn đề mấu chốt của thực hành dân chủ trong Đảng chính là phải thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, còn được gọi là “dân chủ tập trung”. Dân chủ tập trung không chỉ là nguyên tắc lãnh đạo, mà còn là chế độ lãnh đạo của đảng cầm quyền. “Tập thể lãnh đạo là dân chủ”, “cá nhân phụ trách là tập trung” và “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức là dân chủ tập trung”. Khẳng định vai trò quan trọng của nguyên tắc dân chủ tập trung đối với thực hành dân chủ trong Đảng, Người chỉ rõ: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc.
Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc.
Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau” (3). Như vậy, trong điều kiện một đảng cầm quyền thì tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách vừa là nguyên tắc lãnh đạo, vừa là biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Đồng thời, sức mạnh của Đảng được tạo dựng bởi đội ngũ cán bộ, nên muốn mở rộng dân chủ trong Đảng thì công tác cán bộ phải thực sự dân chủ, công tâm, minh bạch.
Người nhấn mạnh, thực hành dân chủ là cơ sở để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Thực hành dân chủ trong Đảng, từ Trung ương đến cơ sở, là nền tảng vững chắc để xây dựng một Đảng đoàn kết, thống nhất, trở thành hạt nhân, động lực xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính vì vậy, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn và yêu cầu “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi”.
Thấm nhuần những lời căn dặn của Người, Đảng ta chủ trương tăng cường thực hiện dân chủ trong mọi sinh hoạt của Đảng, coi đây là cơ sở quan trọng để tạo dựng và phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tạo nên sức mạnh của Đảng. Đảng chủ trương nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp ủy và chi bộ; tạo điều kiện để mọi đảng viên, dù ở cương vị nào cũng được bình đẳng thực hiện quyền và trách nhiệm của mình, được tham gia quyết định công việc của Đảng, được chất vấn, tự phê bình và phê bình trong phạm vi tổ chức về hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp; trong đó, có quyền được thông tin, thảo luận, nêu ý kiến riêng, được bảo lưu ý kiến và trình bày ý kiến trong tổ chức đảng.
Thực hành dân chủ trong xã hội
Thực hành dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính là để dân thực sự là chủ và làm chủ xã hội, để dân chủ được phát huy đến cao độ, quyền làm chủ của nhân dân được thực hiện trên thực tế và đi vào thực chất; qua đó, xây dựng chế độ ta thực sự là một chế độ dân chủ và tạo ra “cái chìa khóa vạn năng” để Đảng ta cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thành công (4). Thực hành dân chủ chính là quá trình huy động, thu hút sự tham gia và phát huy được tối đa quyền hạn, lực lượng của toàn dân để thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng vì lợi ích của nhân dân, phát triển đất nước. Do đó, “phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hiểu rõ, làm cho quần chúng hăng hái tham gia thì mới chắc chắn thành công. Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng” (5).
Người chỉ rõ, thực hành dân chủ trong xã hội phải hướng đến mục tiêu làm cho dân “ai cũng được hưởng quyền dân chủ tự do”; công bằng và bình đẳng trước pháp luật và trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định là mục tiêu để xây dựng chế độ mới, vì lợi ích của nhân dân. Người quan tâm tới nội dung toàn diện của dân chủ, trong đó có thực hành dân chủ trong xã hội. Mục tiêu dân chủ được thể hiện trước hết ở dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị; cùng với đó, còn là dân chủ trong văn hóa, trong phát triển xã hội và quản lý xã hội, hướng trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội cấp thiết, tổ chức thực hiện chính sách xã hội và an sinh xã hội cho con người, vì con người. Không chỉ thế, theo Người, thực hành dân chủ còn là phải bảo đảm dân chủ trong đời sống tinh thần của xã hội, nghĩa là phải tạo điều kiện, cơ hội để mọi người dân dám nghĩ, dám nói lên những suy nghĩ, tâm tư, nguyện vọng của mình; đồng thời, phải bảo đảm cho họ có được tự do về tư tưởng, thực hiện dân chủ trong sáng tạo văn hóa và thụ hưởng những thành quả văn hóa.
Bởi quan niệm dân chủ là mục tiêu, nên ngay khi chính thể dân chủ vừa mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: Chúng ta phải làm ngay, làm cho dân có ăn, có mặc, có nhà ở, được học hành, được tự do đi lại, được chăm sóc sức khỏe, được hưởng quyền tự do mà họ xứng đáng được hưởng với tư cách người chủ. Người còn nói rõ, dân chỉ biết tới giá trị của tự do, dân chủ khi dân được ăn no, mặc ấm. Nước nhà tranh đấu được độc lập, tự do mà “dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì”, chẳng để làm gì. Chính vì vậy, Người yêu cầu Đảng và Chính phủ cũng như đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần sâu sắc phương châm “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”.
Thực hành dân chủ trong xã hội là biện pháp, chính sách hữu hiệu nhằm thực hiện mục tiêu không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Vì vậy, chính sách của Đảng và Chính phủ phải nâng cao đời sống của nhân dân; cán bộ của Đảng và chính quyền các cấp từ trên xuống dưới đều phải hết sức quan tâm đến mọi mặt đời sống của nhân dân. Người thường xuyên nhấn mạnh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng môi trường dân chủ, tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Đồng thời, thực hành dân chủ còn có vai trò, tác dụng giải phóng tiềm năng sáng tạo của nhân dân và trở thành động lực của quá trình xây dựng một xã hội tiến bộ và phát triển, văn minh. Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết: “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” (6) và thực hành dân chủ chính là “cái chìa khóa vạn năng” có thể giải quyết mọi khó khăn, tạo động lực để phát triển đất nước.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi, động viên ngư dân tàu cá đang neo đậu tại cảng cá xã Cà Ná, huyện Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận (Ảnh: TTXVN)
Mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Nội dung, thực trạng và định hướng
Những nội dung, phương diện cơ bản
Thứ nhất, thực hành dân chủ trong Đảng là “hạt nhân”, tạo động lực, điều kiện và nêu gương để thực hiện, phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội; đồng thời, thực hành dân chủ trong xã hội là điều kiện cần thiết để củng cố, tạo môi trường, xung lực cho thực hành dân chủ trong Đảng.
Thực hành dân chủ trong Đảng và phát huy dân chủ trong xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua, luôn bổ sung và hoàn thiện lẫn nhau. Đó là hai mặt của một chỉnh thể. Tuy nhiên, chỉ có tăng cường thực hành dân chủ trong Đảng rộng rãi, thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương thì mới có thể tiến hành mở rộng và phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội, vì Đảng ta giữ vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và toàn xã hội. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi đảng viên ở bất cứ địa vị nào cũng phải làm gương thực hành dân chủ trong công tác, để tạo điều kiện cho mỗi người và quần chúng nhân dân nhiệt thành phát huy sáng kiến, nâng cao hiệu quả công việc.
Quan điểm nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh là, có bảo đảm và phát huy dân chủ ở trong Đảng thì mới bảo đảm được dân chủ của toàn xã hội. Quyền lãnh đạo của Đảng được xuất phát từ sự ủy quyền của giai cấp công nhân, của dân tộc và của nhân dân; Đảng trở thành hạt nhân chính trị của toàn xã hội, là nhân tố tiên quyết để bảo đảm tính chất dân chủ của xã hội. Thực hành dân chủ trong Đảng trở thành yếu tố quyết định, tạo động lực cho thực hành dân chủ đầy đủ trong toàn xã hội. Người chủ trương xây dựng các tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân vững mạnh để bảo đảm dân chủ và thực hành dân chủ có hiệu quả, thực chất trong xã hội. Kế thừa và phát triển những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội” (7).
Thực tế cho thấy, khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, luôn xuất hiện các nguy cơ thoái hóa, biến chất, sa vào chủ nghĩa cá nhân… của một bộ phận cán bộ, đảng viên và điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý, trù liệu từ rất sớm. Do vậy, trước tiên, Đảng cần phải kiên quyết chống mọi biểu hiện, hành vi vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng dưới mọi hình thức, như dân chủ hình thức, độc đoán, chuyên quyền, lợi dụng, lạm dụng chức quyền, bất chấp các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước để trục lợi cá nhân, hoặc chỉ phục vụ cho “lợi ích nhóm” tiêu cực.
Dân chủ trong Đảng là tấm gương phản chiếu dân chủ trong xã hội; vì vậy, nếu dân chủ trong xã hội chỉ là hình thức, chiếu lệ hay sự mất dân chủ diễn ra tràn lan thì khó có thể nói đến dân chủ thực sự trong Đảng. Bởi lẽ, thực hành dân chủ rộng rãi trong xã hội sẽ tạo môi trường, điều kiện thuận lợi, “bầu không khí” cần thiết và là sự thôi thúc cho thực hành dân chủ trong Đảng. Và rõ ràng, chỉ trên nền tảng phát huy quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa thì dân chủ trong nội bộ Đảng mới càng có thêm sinh lực, sức sống, phản ánh được thực tiễn xã hội phong phú; tập trung, phát huy được trí tuệ của toàn dân tộc và nhờ đó mà Đảng ngày càng được củng cố, vững mạnh hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong bối cảnh mới, để “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”, như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thực hành dân chủ rộng rãi trong xã hội còn góp phần tạo dựng và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tạo điều kiện tiên quyết để nhân dân có thể tiến cử những người có đủ đức, đủ tài, có tâm huyết, trách nhiệm với đất nước, không bỏ sót nhân tài, kể cả nhân tài ngoài Đảng. Chỉ có dựa vào nhân dân, gắn với quá trình dân chủ hóa xã hội thực sự, thì mới có điều kiện phát hiện, thu hút, tuyển dụng, sử dụng và trọng dụng được nhân tài trong xã hội cho Đảng, góp phần vào thực hiện có hiệu quả, dân chủ, công khai, minh bạch, công tâm công tác cán bộ của Đảng - “nhiệm vụ then chốt của then chốt” trong công tác xây dựng Đảng, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp cách mạng.
Thực hành dân chủ trong xã hội vừa là “chìa khóa” để giải quyết được những khó khăn, thách thức ngày càng nhiều hơn trước, vừa góp phần thúc đẩy tính tích cực, chủ động của nhân dân; khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” (8).
Thứ hai, thực hành dân chủ trong Đảng là cơ sở để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường sự đồng thuận xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ cách mạng.
Chính vì nhận thức rõ vai trò, sức mạnh to lớn của dân chủ nói chung mà trong tư tưởng Hồ Chí Minh có sự gắn bó chặt chẽ giữa dân với dân chủ, dân chủ với dân vận và công tác dân vận, dân chủ với đại đoàn kết toàn dân tộc để tạo nên sức mạnh to lớn nhằm thực hiện và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Do đó, theo Người, phải đẩy mạnh thực hành dân chủ, vì có dân chủ mới có đồng thuận xã hội; dân chủ và đoàn kết phải đi liền với nhau thì mới tạo ra sự đồng thuận xã hội - tiền đề để phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công. Đặc biệt, Người nhấn mạnh: “Ngày nay, sự đoàn kết trong Đảng là quan trọng hơn bao giờ hết, nhất là sự đoàn kết chặt chẽ giữa các cán bộ lãnh đạo… Muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê bình”(9). Tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn vẹn nguyên giá trị thời sự. Kinh nghiệm thực tế cho thấy rằng, chỉ có thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng thì mới tạo nền tảng vững chắc cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc củng cố và phát triển, tăng cường sự đồng thuận xã hội và sự ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, chế độ và nhờ đó, cách mạng Việt Nam mới vượt qua được muôn vàn khó khăn, thách thức; đạt được nhiều thành tựu to lớn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, cả trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây và trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.
Thứ ba, thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội đều tạo sinh lực cho sự ra đời những sáng kiến, tinh thần hăng hái đổi mới, sáng tạo, khắc phục tư duy bảo thủ, giáo điều, sự trì trệ cả trong Đảng và trong xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, “dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến. Những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo” (10). Rõ ràng, chỉ khi phát huy và thực hành được dân chủ rộng rãi thì đảng viên, quần chúng nhân dân mới đề xuất được nhiều sáng kiến, hăng hái trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Nhận thấy rõ đoàn kết, sáng kiến và sự nhiệt huyết của cán bộ cũng như của nhân dân chính là kết quả của dân chủ, nên Người yêu cầu “phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng”. Theo Người, một khi có dân chủ thực sự thì mỗi người dân sẽ dám nói, dám nghĩ, dám làm, dám đề xuất những sáng kiến tâm huyết của mình; đồng thời, người cán bộ, đảng viên mới có gan dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Có dân chủ thì sẽ khắc phục được thói áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tránh được tư duy bảo thù, trì trệ và mọi người có được quyền tự do tư tưởng, tự do thảo luận và khi ấy, tự do tranh luận, thảo luận lại chính là quyền tự do phục tùng chân lý. Do vậy, Người nhấn mạnh, điểm cốt lõi về thực hành dân chủ ở đây còn là và chính là “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm” (11).
Thực trạng mối quan hệ giữa thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội thời gian qua
Những kết quả, thành tựu đạt được cần tiếp tục kế thừa, phát huy
Trong hơn 92 năm qua, dù phải đối diện nhiều khó khăn, thử thách, nhưng với bản lĩnh chính trị của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn coi trọng và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, coi đây là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chặt chẽ, thống nhất, vừa phát huy dân chủ, tôn trọng đóng góp của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể, duy trì sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng cách mạng, nỗ lực thực hiện sứ mệnh, nhiệm vụ chính trị được nhân dân tin tưởng giao phó. Kế thừa và quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ, Đảng ta tập trung nâng cao nhận thức, mở rộng thực hành dân chủ và đã đạt được những kết quả tích cực. Sự ra đời của Quy chế chất vấn trong Đảng và việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng...
Sưu tầm

