Nhận thức đúng về bản chất của “tam quyền phân lập” để không “mắc bẫy” suy thoái về tư tưởng chính trị

Nhận thức đúng đắn vấn đề “tam quyền phân lập” để không hoài nghi, dao động và có thể “mắc bẫy” vào âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không chỉ giúp cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, mà cũng là một cách phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị.

Nhận thức đúng đắn vấn đề “tam quyền phân lập” để không hoài nghi, dao động và có thể “mắc bẫy” vào âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không chỉ giúp cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, mà cũng là một cách phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị.

Bản chất của “tam quyền phân lập” và vấn đề chân lý khoa học xã hội

Trong dòng chảy của tư tưởng chính trị, học thuyết “tam quyền phân lập” gắn liền với tên tuổi các nhà khai sáng, nổi lên như một nguyên tắc tổ chức quyền lực được nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước tư bản chủ nghĩa áp dụng.

Lịch sử tư tưởng chính trị đã ghi nhận người có công đầu tiên trong việc hệ thống hóa và phát triển học thuyết phân chia quyền lực thành mô hình “tam quyền phân lập” một cách đầy đủ nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” (năm 1748). Trong đó, điểm cốt yếu của học thuyết “tam quyền phân lập” không chỉ là sự phân chia về mặt chức năng mà còn là sự độc lập tương đối của 3 nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp; cùng với sự cần thiết của cơ chế kiểm soát và cân bằng. Mỗi nhánh có những quyền hạn nhất định để giám sát, kiềm chế hoặc tác động lẫn nhau, ngăn không cho bất kỳ nhánh nào có thể lấn át các nhánh còn lại. Nghiên cứu trên được coi là một trong những nền tảng lý luận về nhà nước pháp quyền gắn liền với việc bảo vệ chế độ dân chủ và các quyền tự do cá nhân theo quan điểm của giai cấp tư sản.

Tuy nhiên, trong các xã hội tư sản, việc áp dụng học thuyết “tam quyền phân lập” cũng có nhiều biến thể và không hoàn toàn giống với mô hình lý tưởng của Montesquieu. Ví dụ, mô hình nghị viện phổ biến ở nhiều nước châu Âu và khối thịnh vượng chung lại thể hiện sự dung hợp giữa lập pháp và hành pháp, khi người đứng đầu chính phủ (thủ tướng) và nội các thường là thành viên của cơ quan lập pháp và chịu trách nhiệm trước cơ quan này. Điều này cho thấy, ngay trong khuôn khổ nhà nước tư sản, “tam quyền phân lập” cũng không phải là một nguyên tắc cứng nhắc, bất biến mà có sự điều chỉnh, thích nghi với điều kiện lịch sử và cấu trúc chính trị cụ thể của từng quốc gia.

Nhận thức đúng về bản chất của “tam quyền phân lập” để không “mắc bẫy” suy thoái về tư tưởng chính trị
 Quang cảnh phiên khai mạc Đại hội lần thứ XIV của Đảng, sáng 20-1-2026. Ảnh: TTXVN

Trước khi khẳng định “tam quyền phân lập” có phải là “chân lý khoa học xã hội” hay không, chúng ta cần có sự so sánh giữa chân lý trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.

Đối với khoa học tự nhiên (toán học, vật lý, hóa học, sinh học...), “chân lý” thường được hiểu là những quy luật khách quan, tồn tại độc lập với ý thức con người, có tính phổ quát (đúng trong mọi không gian và thời gian xác định), có tính lặp lại và có thể kiểm chứng một cách chính xác bằng thực nghiệm (ví dụ: Định luật hấp dẫn, định luật bảo toàn năng lượng).

Còn đối với lĩnh vực khoa học xã hội là một tập hợp các ngành khoa học nghiên cứu về con người trong đời sống xã hội, các quan hệ xã hội, hành vi con người, cấu trúc xã hội, các thể chế và sự phát triển của xã hội. Đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội vô cùng phức tạp, đa dạng, mang tính lịch sử cụ thể và chịu sự chi phối của nhiều yếu tố (kinh tế, chính trị, văn hóa, tâm lý...).

Như vậy, trong khoa học xã hội, việc đạt đến chân lý theo nghĩa tuyệt đối như khoa học tự nhiên là cực kỳ khó khăn, thậm chí là không thể đối với nhiều vấn đề. Hay nói cách khác, khoa học xã hội thường đưa ra các lý thuyết và mô hình để giải thích và đôi khi dự báo về xã hội, chứ ít khi tìm kiếm các định luật phổ quát, bất biến như khoa học tự nhiên.

Tính đúng đắn của một học thuyết khoa học xã hội thường được đánh giá dựa trên khả năng giải thích, tính nhất quán nội tại, khả năng dự báo (nếu có) và sự phù hợp với bằng chứng thực nghiệm trong bối cảnh nghiên cứu của nó, chứ không phải là tính tuyệt đối phổ quát. Ngay cả trong các lý thuyết khoa học xã hội không thuộc hệ thống lý luận Mác-Lênin, “tam quyền phân lập” cũng không được coi là một “chân lý” theo nghĩa một quy luật khách quan, bất biến.

 “Tam quyền phân lập” không phải chân lý khoa học xã hội

Xuất phát từ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định nhà nước tư sản là công cụ chuyên chính của giai cấp tư sản. Trong khuôn khổ phân tích này, “tam quyền phân lập” được nhìn nhận không phải là một nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước mang tính phổ quát, mà là một hình thức tổ chức quyền lực đặc thù của nhà nước tư sản. Trong đó, “tam quyền phân lập” là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, là cơ chế để điều hòa mâu thuẫn nội bộ trong giai cấp thống trị, nó tạo ra ảo tưởng về một nhà nước trung lập, dân chủ, đứng trên giai cấp. 

Theo quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, sự phát triển của nhà nước gắn liền với sự thay thế các hình thái kinh tế-xã hội và sự thay đổi về bản chất giai cấp của quyền lực nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa, với bản chất là chuyên chính vô sản (nhà nước của đại đa số nhân dân lao động), có nguyên tắc tổ chức khác về căn bản so với nhà nước tư sản. Do đó, “tam quyền phân lập” không thể là một quy luật phổ quát cho mọi kiểu nhà nước trong lịch sử.

Như vậy, “tam quyền phân lập” không phải là chân lý khoa học xã hội mà là một sản phẩm lịch sử cụ thể của chế độ tư bản chủ nghĩa, là một hình thức tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản và duy trì sự thống trị của giai cấp này. Phân tích “tam quyền phân lập” là một phần của việc phân tích bản chất nhà nước trong xã hội có giai cấp, chứ không phải là việc thừa nhận nó là một nguyên lý tổ chức nhà nước chung cho mọi thời đại và mọi xã hội.

Nhận thức thấu đáo về sự vận dụng quan điểm “tam quyền phân lập” ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mô hình nhà nước này được tổ chức và vận hành dựa trên những nguyên tắc căn bản khác biệt so với mô hình “tam quyền phân lập” của nhà nước tư sản.

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới”, khẳng định: “Thực hiện nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của nhân dân”.

Nguyên tắc tổ chức Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là quyền lực nhà nước thống nhất, thuộc về nhân dân. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước và giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Quyền lực nhà nước thống nhất đó có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Nhà nước, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Các cơ quan này có sự phối hợp chặt chẽ trong hoạt động nhưng đồng thời chịu sự kiểm soát của nhân dân (thông qua các cơ chế giám sát, phản biện xã hội) và đặc biệt là chịu sự giám sát của các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân).  

Cả phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam mang tính khoa học, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Mô hình này thể hiện bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, là sự cụ thể hóa lý luận Mác-Lênin về nhà nước chuyên chính vô sản trong điều kiện thực tiễn Việt Nam.

Theo lý luận Mác-Lênin, giai đoạn quá độ là giai đoạn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới với nhiều khó khăn, phức tạp. Cần có một nhà nước mạnh mẽ, thống nhất để tập trung nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ cách mạng, phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng. Mô hình tổ chức quyền lực thống nhất tạo điều kiện thuận lợi cho việc hoạch định và thực thi các chính sách phát triển kinh tế-xã hội một cách đồng bộ, hiệu quả.

Trong bối cảnh thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá cách mạng Việt Nam, trong đó có việc tấn công vào nền tảng tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ chính trị. Việc khẳng định và kiên trì nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, chống lại quan điểm đòi “tam quyền phân lập” theo kiểu tư sản, là sự tự bảo vệ cần thiết để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, việc khẳng định tính đúng đắn và phù hợp không có nghĩa là mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã hoàn thiện. Đảng ta chỉ rõ, trong những năm tới cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị.

Trong đó, nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật nghiêm minh, nhất quán; bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật. Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, phân quyền, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước đi đôi với nâng cao năng lực thực thi; xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Ðẩy mạnh cải cách tư pháp, bảo đảm tính độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán, hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Như vậy, có thể khẳng định rằng học thuyết “tam quyền phân lập” không phải là một chân lý khoa học xã hội mang tính phổ quát, bất biến cho mọi thời đại và mọi xã hội. Nó là một sản phẩm lịch sử cụ thể, một hình thức tổ chức quyền lực của nhà nước tư sản ra đời trong những điều kiện kinh tế-xã hội nhất định, nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản và duy trì sự thống trị của giai cấp này. Dù có vai trò nhất định trong việc kiểm soát quyền lực trong khuôn khổ chế độ tư bản và là một đối tượng nghiên cứu quan trọng, bản chất giai cấp của nó khiến nó không thể là quy luật chung cho sự phát triển của mọi kiểu nhà nước.

Việt Nam trên cơ sở vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã lựa chọn con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mô hình nhà nước này được tổ chức dựa trên nguyên tắc khoa học, đúng đắn và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Vì vậy, nhận thức đúng đắn vấn đề “tam quyền phân lập” để không hoài nghi, dao động và có thể “mắc bẫy” vào âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không chỉ giúp cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, mà cũng là một cách phòng ngừa suy thoái về tư tưởng chính trị.

Nguồn: qdnd.vn


Tin tức liên quan

Những tờ báo đặc biệt trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam
Những tờ báo đặc biệt trong lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam

29 Lượt xem

Từ tờ báo “Thanh Niên” do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh sáng lập đến hệ sinh thái báo chí số ngày nay, báo chí cách mạng Việt Nam đã trải qua 101 năm hình thành và phát triển.

Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số
Báo chí cách mạng Việt Nam trong thời đại số

25 Lượt xem

Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với tiêu đề: "BÁO CHÍ CÁCH MẠNG VIỆT NAM TRONG THỜI ĐẠI SỐ".

Phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới
Phát triển đối ngoại tương xứng với tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới

22 Lượt xem

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước đặt ra những đòi hỏi mới đối với công tác đối ngoại.

Làm rõ tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Làm rõ tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

25 Lượt xem

Sáng 10/6, tại Hà Nội, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia nhằm làm rõ tư duy, tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.

Phát huy truyền thống thi đua yêu nước trong kỷ nguyên phát triển mới
Phát huy truyền thống thi đua yêu nước trong kỷ nguyên phát triển mới

20 Lượt xem

78 năm sau Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua yêu nước tiếp tục lan tỏa sâu rộng, khơi dậy khát vọng cống hiến và tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Xã, phường xã hội chủ nghĩa: Dân chủ và hạnh phúc - giá trị cốt lõi xây dựng niềm tin
Xã, phường xã hội chủ nghĩa: Dân chủ và hạnh phúc - giá trị cốt lõi xây dựng niềm tin

21 Lượt xem

Trong kỷ nguyên phát triển mới, xã, phường xã hội chủ nghĩa không chỉ được đánh giá qua hệ thống hạ tầng hiện đại, hay những con số tăng trưởng về kinh tế, mà còn thể hiện trong niềm tin, sự hài lòng và chất lượng cuộc sống của người dân.

Núp bóng công nghệ để mưu đồ chống phá (Tiếp theo và hết) Bài 2: Xây dựng không gian mạng lành mạnh, minh bạch và có sức đề kháng
Núp bóng công nghệ để mưu đồ chống phá (Tiếp theo và hết) Bài 2: Xây dựng không gian mạng lành mạnh, minh bạch và có sức đề kháng

21 Lượt xem

Từ dịch vụ “Hỗ trợ xử lý sự cố mạng” (Helpdesk) do Rise quảng bá thời gian gần đây, có thể thấy một sự chuyển hướng cần quan tâm: Hoạt động chống phá trên không gian mạng đang thay đổi rất nhanh về phương thức, cách tiếp cận và mức độ tinh vi.

Lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá đất nước
Lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá đất nước

18 Lượt xem

Tự do, dân chủ luôn là giá trị cốt lõi, là lý tưởng mà nhân loại tiến bộ hướng tới trong tiến trình phát triển. Ở Việt Nam, các quyền này không chỉ là sự khẳng định về mặt chính trị mà còn được thể chế hóa cụ thể, đầy đủ bằng hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những biểu hiện lợi dụng tự do, dân chủ để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. 

Khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Khẳng định chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”

14 Lượt xem

Sáng 5/6, Bộ Quốc phòng phối hợp Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến-Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước-Ý chí bảo vệ độc lập, tự do với tinh thần tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.

Tấm gương không ngừng sáng tạo và khơi nguồn sáng tạo
Tấm gương không ngừng sáng tạo và khơi nguồn sáng tạo

12 Lượt xem

Tròn 115 năm trước, quyết định đi tìm đường cứu nước thể hiện rõ tư duy độc lập, sáng tạo của Nguyễn Tất Thành. Đây cũng là quyết định khởi nguồn cho thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam. Hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là nguồn cảm hứng cổ vũ cho độc lập, tự do của các dân tộc. Cuộc đời của Người là hành trình không mệt mỏi sáng tạo không ngừng.

115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Một địa danh, hai cột mốc
115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước: Một địa danh, hai cột mốc

19 Lượt xem

Trong suốt hành trình ra đi tìm đường cứu nước của người thanh niên Nguyễn Tất Thành - sau này là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, chặng dừng chân tại Hong Kong (Trung Quốc) tuy không dài nhưng lại mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Bài học về tầm nhìn, nhận thức và hành động
Bài học về tầm nhìn, nhận thức và hành động

13 Lượt xem

Cách đây 115 năm, ngày 5/6/1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời đất nước ra đi tìm đường cứu nước. Mục đích là để xem các nước người ta làm thế nào để trở về giúp đồng bào mình đấu tranh thoát khỏi đọa đày, đau khổ.


Bình luận
Đã thêm vào giỏ hàng